Hiển thị các bài đăng có nhãn A1-Kế toán quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn A1-Kế toán quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Lợi thế thương mại - Đánh giá tổn thất




















Từ năm 2004, IFRS yêu cầu đánh giá tổn thất lợi thế thương mạo (LTTM) thay vì phân bổ như IAS 22. Trong khi đó, US GAAP đã yêu cầu thực hiện điều này từ năm 2001. Bài viết này tóm tắt những yêu cầu của IFRS và US GAAP cập nhật đến nay.

SFAS 142 (revised 2010)

Phương pháp đánh giá

Việc đánh giá tổn thất gồm 2 bước:

  • Bước 1: So sánh giữa giá trị hợp lý (fair value - FV) của bộ phận báo cáo (reporting unit) với giá trị sổ sách của nó. Nếu FV nhỏ hơn giá trị sổ sách, tổn thất có khả năng xảy ra, kế toán sẽ làm bước 2.
  • Bước 2: So sánh giữa FV ngầm định của LTTM với giá trị sổ sách của LTTM. Nếu FV ngầm định nhỏ hơn giá trị sổ sách của goodwill, khoản chênh lệch sẽ được ghi nhận vào lỗ.

Cách tính FV ngầm định của goodwill:

  • Tính FV của toàn bộ đơn vị báo cáo
  • Phân bổ FV cho tất cả tài sản và nợ phải trả như là trong 1 giao dịch mua công ty (bao gồm cả tài sản vô hình chưa được ghi nhận).
  • FV ngầm định của goodwill = FV của đơn vị báo cáo – FV của tài sản thuần.

Đối tượng đánh giá

Đối tượng đánh giá tổn thất LTTM là bộ phận báo cáo. Bộ phận báo cáo (reporting unit) được định nghĩa là một bộ phận hoạt động (operating segment – theo khái niệm của chuẩn mực về báo cáo bộ phận) hoặc thấp hơn một cấp (gọi là thành phần -component). Một thành phần sẽ được xem là một bộ phận báo cáo khi nó có thông tin tài chính riêng và thường được nhà quản lý soát xét kết quả hoạt động. Nếu hai thành phần cùng một bộ phận hoạt động và có đặc điểm kinh tế như nhau thì được gộp lại như một bộ phận báo cáo để đánh giá.

Hoàn nhập

US GAAP không cho phép hoàn nhập khoản lỗ đã ghi nhận.

Thời điểm đánh giá
Tổn thất LTTM được đánh giá hàng năm và giữa năm nếu xảy ra các sự kiện đặc biệt có thể làm giá trị hợp lý của đơn vị báo cáo xuống thấp hơn giá trị sổ sách; ví dụ một thay đổi bất lợi trong môi trường kinh doanh.

Cập nhật
 
Gần đây, FASB có điều chỉnh phương pháp đánh giá tổn thất goodwill để giảm bớt gánh nặng chi phí (ASU 2011-08):
1/ Đầu tiên, áp dụng phương pháp đánh giá định tính để xem liệu có tổn thất không. Nếu không thì không cần đánh giá tổn thất.
2/ Nếu giá trị sổ sách của bộ phận báo cáo âm hoặc =0, thì thực hiện thẳng bước 2.

IFRS 3 và IAS 36 (2010)

Phương pháp đánh giá

Theo IAS 36, việc đánh giá tổn thất chỉ có 1 bước: So sánh giữa giá trị có thể thu hồi (recoverable amount) với giá trị sổ sách của bộ phận tạo ra tiền (cash-generated unit). Nếu giátrị thu hồi thấp hơn giá trị sổ sách, phần chênh lệch sẽ là lỗ tổn thất. Lỗ tổn thất trước hết được ghi giảm goodwill, phần còn lại sẽ giảm cho các tài sản khác trên cơ sở giá trị sổ sách của các tài sản này.

Cách tính giá trị có thể thu hồi:
Giá trị có thể thu hồi là số tiền lớn hơn giữa FV trừ chi phí bán với giá trị sử dụng (value in use). Giá trị sử dụng là giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai.

Một ví dụ về phương pháp đánh giá LTTM và thuyết minh về chính sách trên BCTC:

A European communications company describes its process for estimating recoverable amount:

“During the fourth quarter of 2009, [the Company] tested the value of goodwill allocated to its cash-generating units (CGU) or groups of CGUs applying the same valuation methods used every year... The recoverable amount is determined as the higher of the value in use determined by the discounted value of future cash flows (discounted cash flow method (DCF)) and the fair value (less costs to sell), determined based on market data (stock market prices, comparison with similar listed companies, comparison with the value attributed to similar assets or companies in recent transactions). The test was performed by [the Company] on the basis of an internal valuation of the recoverable amounts, except in the case of [two CGUs] for which [the Company] required the assistance of independent experts. Regarding [the first CGU], the recoverable amount was determined using usual valuation methods (DCF and stock market multiples) using financial assumptions consistent with previous years, which are as follows regarding the DCF method: discount rate of 8.50% (compared to 9.30% as of December 31, 2008) and perpetual growth rate of 1.00% (unchanged compared to December 31, 2008)... management concluded that the carrying value exceeded the recoverable amount of [the CGU] and consequently recognized an impairment loss of €616 million as of December 31, 2009...”
(Nguồn: E&Y, Impairment of long-lived assets, goodwill and intangible assets - US GAAP and IFRS - Media & Entertainment)

Đối tượng đánh giá
Đối tượng đánh giá tổn thất là đơn vị tạo ra tiền (cash-generating unit – viết tắt CGU). Theo IAS 36, CGU của một tài sản là nhóm tài sản nhỏ nhất có bao gồm tài sản đó và tạo ra dòng tiền vào độc lập một cách đáng kể với các dòng tiền từ các tài sản khác hoặc các nhóm tài sản khác.

Một ví dụ về cách xác định đối tượng đánh giá của IFRS so sánh với US GAAP:

"A media company has two operating segments: music and television. The music segment has three divisions: music recording, merchandising and music publishing. Each division has discrete cash inflows and financial information, which includes a goodwill allocation from acquisitions that benefit that division. Management regularly reviews the operating results of each division.

  • Under US GAAP, the three music divisions are each “components.” The company aggregated the music divisions (components) together as a “music” reporting unit for goodwill allocation and impairment testing, because they had similar economic characteristics, and thus qualified for aggregation as a reporting unit under US GAAP.
  • Under IFRS, the three music divisions are each CGUs. Because each division is a CGU, and goodwill is monitored at the division level, management is required to assess goodwill impairment for each music division separately."

(Nguồn: E&Y, Impairment of long-lived assets, goodwill and intangible assets - US GAAP and IFRS - Media & Entertainment)

Hoàn nhập
Trước đây, IAS 36 cho phép hoàn nhập khi tổn thất không còn nữa. Tuy nhiên, từ năm 2004, việc hoàn nhập này không còn được phép nữa.

Thời điểm đánh giá
IAS 36 yêu cầu đánh giá tổn thất hàng năm, tuy nhiên cho phép đánh giá vào bất kỳ thời điểm nào trong năm với điều kiện việc đánh giá được thực hiện cùng thời điểm vào mỗi năm. Các CGU khác nhau có thể có thời điểm đánh giá khác nhau.

Một ví dụ về cách xác định thời điểm đánh giá:

"A US multimedia company applying IFRS determines that the optimal time for assessing impairment for its CGUs are as follows:
  • Advertising — in May, because that is when it purchases the “up fronts” for the next season
  • Film — in December, which is the end of the Christmas film season and coincides with its fiscal year-end."
(Nguồn: E&Y, Impairment of long-lived assets, goodwill and intangible assets - US GAAP and IFRS - Media & Entertainment)

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

Kế toán trên cơ sở chấm dứt hoạt động (tiếp theo)
















Tài liệu trình bày tại buổi hội thảo.

Các thầy cô bấm vào đường dẫn, sẽ hiện lên trang Google Documents, có thể xem trực tiếp,in hoặc download về. Để download về, các thầy cô chọn mục Print phía trên bên tay trái, chọn print to PDF để tải về.






Câu hỏi thảo luận

Hai câu hỏi lớn được trao đổi trong buổi hội thảo là:

1/ Tại sao FASB loại trừ trường hợp các đơn vị chấm dứt hoạt động theo kế hoạch đã có từ khi thành lập ra khỏi đối tượng áp dụng cơ sở chấm dứt hoạt động? Thông tin về tình hình thanh lý của các doanh nghiệp này (đặc biệt là đối với công ty cổ phần) rất cần thiết cho các bên.

2/ FASB cho phép doanh nghiệp ghi nhận tài sản theo số tiền họ mong đợi (hy vọng) có thể thu được. Liệu điều này có thiếu “thận trọng” không? Làm sao kiểm toán viên thu thập bằng chứng về vấn đề này?


Những nội dung tham khảo về hai câu hỏi này sẽ được đưa lên trong thời gian gần.

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

Kế toán trên cơ sở chấm dứt hoạt động








Báo cáo tài chính hiện nay chủ yếu được lập trên cơ sở giả định hoạt động liên tục (going concern basis). Mặc dù IFRS quy định rằng khi giả định này bị vi phạm, báo cáo tài chính sẽ phải lập trên một cơ sở khác nhưng không có một hướng dẫn cụ thể nào về cơ sở này. Trên thực tế, các doanh nghiệp trong trường hợp và các công ty kiểm toán của họ có nhiều cách xử lý rất khác nhau. Vấn đề đặc biệt quan trọng hơn trong bối cảnh suy thoái kinh tế và nhiều doanh nghiệp lâm vào hoàn cảnh này, trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Gần đây, tháng 4-2013, FASB đã ban hành một hướng dẫn về vấn đề này với tên gọi “Liquidation Basis of Accounting” – tạm dịch “Kế toán trên cơ sở chấm dứt hoạt động” hoặc “Kế toán trên cơ sở thanh lý”. Điều này một mặt đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, mặt khác đặt ra những câu hỏi thú vị về mặt lý thuyết.


Câu lạc bộ Giảng dạy và Nghiên cứu Kế toán – Kiểm toán tổ chức buổi hội thảo với đề tài: Lập BCTC trong trường hợp giả định hoạt động liên tục bị vi phạm. Mục đích của buổi trình bày là giới thiệu về hướng dẫn của FASB cũng như các cách tiếp cận đa dạng hiện nay của các doanh nghiệp và công ty kiểm toán. Các thông tin trao đổi sẽ hữu ích cho:

  • Các doanh nghiệp trong việc xử lý một vấn đề thách thức đặt ra trong thực tiễn nghề nghiệp.
  • Các nhà giảng dạy và nghiên cứu kế toán – kiểm toán Việt Nam trong việc nắm bắt thực tiễn về vấn đề này nhằm phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu .
  • Các kiểm toán viên trong việc hiểu và thực hiện những thủ tục kiểm toán cần thiết trong trường hợp này, đặc biệt là trong bối cảnh chưa có chuẩn mực kế toán Việt Nam hay bất kỳ quy định nào hướng dẫn tại Việt Nam hiện nay.

Nội dung

  • Giới thiệu các nội dung về kế toán trên cơ sở chấm dứt hoạt động theo quy định của FASB
  • Những vấn đề khi áp dụng thực tiễn tại Việt Nam
  • Ghi nhận tài sản và nợ phải trả trên cơ sở chấm dứt hoạt động
  • Xác định giá trị của tài sản và nợ phải trả trên cơ sở chấm dứt hoạt động lý
  • Trình bày báo cáo tài chính lập trên cơ sở chấm dứt hoạt động
  • Các vấn đề về kiểm toán
  • Những ảnh hưởng của vấn đề trên đến giảng dạy và nghiên cứu kế toán – kiểm toán.

Tài liệu tham khảo

FASB: Update No. 2013-07—Presentation of Financial Statements (Topic 205): Liquidation Basis of Accounting, download tại:


Thứ Ba, 12 tháng 6, 2012

Vốn hóa chi phí đi vay














Lược sử vấn đề

Một trong những chủ đề gây nhiều tranh luận trong kế toán trước đây là chi phí đi vay để phục vụ cho việc xây dựng hoặc chế tạo tài sản, sản phẩm có được vốn hóa – nghĩa là tính vào giá gốc tài sản không? Cho đến năm 2008, Vốn hóa chi phí đi vay là một điểm khác biệt giữa IFRS và US GAAP. IASB cho phép chọn một trong hai phương pháp:
  • Phương pháp chuẩn yêu cầu ghi ngay chi phí đi vay vào chi phí tài chính
  • Phương pháp thay thế yêu cầu các khoản chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến tài sản dở dang phải được vốn hóa khi thỏa các điều kiện.
Trong khi đó, FASB yêu cầu các khoản chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến tài sản dở dang phải được vốn hóa khi thỏa các điều kiện.

Trong chương trình hội tụ giữa US GAAP và IFRS, vấn đề này được đưa vào thành một dự án ngắn hạn, bắt đầu từ năm 2006 và kết thúc năm 2007 khi IASB ban hành IAS 23 điều chỉnh có hiệu lực từ 1.1.2009. IAS 23 (2007) quy định đã loại bỏ lựa chọn ghi nhận toàn bộ chi phí đi vay vào chi phí trong kỳ mà yêu cầu các chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến sự hình thành tài sản phải được vốn hóa.

Ở Việt Nam, chuẩn mực kế toán số 16 “Chi phí đi vay” (VAS 16) công bố năm 2002, yêu cầu chi phí đi vay được vốn hóa và như vậy, về cơ bản là phù hợp với cách xử lý của IAS 23 (2007).

Quan điểm của IASB khi yêu cầu vốn hóa

Trong phần Cơ sở cho Kết luận (Basis for Conclusions) của IAS 23 (2008), IASB có nêu và phân tích lập luận của hai bên “ủng hộ” và “phản đối” vốn hóa. Dưới đây là một số ý chính.

Quan điểm ủng hộ vốn hóa
Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc mua, xây dựng hay sản xuất tài sản dở dang là một phần chi phí cấu thành tài sản. Khi tài sản đang xây dựng hay sản xuất, cần có nguồn tài trợ và khoản tài trợ này làm phát sinh chi phí. Giá gốc của tài sản cần bao gồm tất cả chi phí cần thiết để tài sản sẵn sàng sử dụng hay để bán, bao gồm cả chi phí để tài trợ nói trên. Vì vậy, chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc hình thành tài sản phải được vốn hóa vào giá gốc của tài sản dở dang.

Quan điểm phản đối vốn hóa
Việc xác định sự liên quan giữa chi phí đi vay với tài sản dở dang là một vấn đề không dễ dàng, vì không phải lúc nào doanh nghiệp cũng vay cho một mục đích. Vốn vay có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Trong khi đó, việc ghi nhận ngay vào chi phí đơn giản hơn nhiều và không tạo gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp.
Tính so sánh có thể bị ảnh hưởng do việc vốn hóa. Giả sử hai doanh nghiệp xây dựng hai công trình tương tự. Doanh nghiệp thứ nhất vay và vốn hóa chi phí đi vay. Doanh nghiệp thứ hai không cần vay và do đó, không có khoản chi phí đi vay nào được vốn hóa. Như vậy, cấu trúc vốn của một doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến giá gốc của các tài sản mà nó sản xuất/xây dựng.

Giải thích của IASB
IASB cho rằng trên quan điểm giá gốc tài sản phải phản ảnh tất cả các chi phí cần thiết cho tài sản sẵn sàng sử dụng hay bán, việc vốn hóa chi phí đi vay là cần thiết.
Công thức tính toán chi phí đi vay được vốn hóa dựa trên chi phí lũy kế bình quân gia quyền của tài sản dở dang cho phép xác định chi phí đi vay liên quan đến tài sản dở dang. Để giảm gánh nặng cho doanh nghiệp, IASB quy định IAS 23 (2007) sẽ được áp dụng không hồi tố.
Về khả năng so sánh, IASB đồng ý rằng cách làm này ảnh hưởng đến việc so sánh giữa hai trường hợp tài trợ bằng vốn vay và tài trợ bằng vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, IASB cũng cho rằng việc loại bỏ cách ghi nhận vào chi phí sẽ giúp tăng khả năng so sánh giữa tất cả các doanh nghiệp tài trợ bằng vốn vay.

Các câu hỏi đặt ra

Trong buổi hội thảo, các câu hỏi đặt ra là:

1/ Vấn đề vốn hóa chi phí đi vay sẽ áp dụng thế nào nếu một doanh nghiệp đi vay vừa có sản phẩm là tài sản dở dang vừa có các sản phẩm bình thường? Ví dụ, một công ty xây dựng vừa xây dựng các công trình có thời gian hoàn thành trên một năm (thỏa tiêu chuẩn tài sản dở dang), vừa sản xuất vật liệu xây dựng là các sản phẩm bình thường.

Trả lời: Cách thức xác định phần chi phí đi vay được vốn hóa theo VAS 16 dựa trên IAS 23 (có thể tham khảo công thức chi tiết hướng dẫn tại Thông tư 105/2003/TT-BTC) giúp tách biệt rõ phần chi phí đi vay nào quan hệ trực tiếp đến việc đầu tư tài sản dở dang:
  • Đối với các khoản vay riêng biệt, dễ dàng xác định chi phí đi vay liên quan.
  • Đối với các khoản vay chung, chỉ có các khoản chi phí đầu tư liên quan đến tài sản dở dang mới được đưa vào tính toán chi phí đi vay được vốn hóa. Các khoản chi phí đầu tư này được tính theo nguyên tắc lũy kế bình quân gia quyền nên phản ảnh khá tốt chi phí đi vay liên quan đến tài sản dở dang.
2/ Tại sao có một mốc phân biệt tài sản dở dang phải có thời gian hoàn thành là từ 12 tháng trở lên? Như vậy, cùng một công trình doanh nghiệp A hoàn thành nhanh hơn (ví dụ 11 tháng) sẽ không được vốn hóa trong khi doanh nghiệp B thi công chậm hơn thì chi phí đi vay sẽ được vốn hóa. Điều này liệu có công bằng không và có phản ảnh đúng thành quả của các doanh nghiệp không?

Trả lời: IAS 23 không quy định tiêu chí thời gian để xác định tài sản dở dang. Nguyên văn: “A qualifying asset is an asset that necessarily takes a substantial period of time to get ready for its intended use or sale”. Như vậy, nguyên tắc trọng yếu được áp dụng trong trường hợp này. Nghĩa là khi thời gian vay đủ dài thì đến mức có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính thì tài sản sẽ được xem là tài sản dở dang.

Ở VN, để dễ áp dụng thống nhất, VAS 16 đưa ra tiêu chí thời gian là 12 tháng, điều này giúp DN đỡ xét đoán tuy nhiên chắc chắn sẽ gây những rắc rối khi vận dụng trong những trường hợp “cận ngưỡng” như ví dụ trong câu hỏi. Tuy nhiên, điều này phải chấp nhận ở VN như một “đánh đổi” cho việc dễ áp dụng, giảm sự xét đoán vốn là vấn đề thường gây tranh cãi ở VN.

Nếu gạt bỏ vấn đề “cận ngưỡng” trên mà đi vào câu hỏi công bằng và phản ảnh đúng thành quả, thì có thể lý giải như sau:
  • Trước hết cần lưu ý là ở đây không xét trường hợp thời gian thi công dài hay ngắn là do gián đoạn thi công. Vì theo VAS 16 cũng như IAS 23, phần chi phí đi vay trong giai đoạn này không được vốn hóa. Dưới đây chỉ xét trường hợp khác biệt về thời gian thi công do kỹ thuật, trình độ thi công khác nhau.
  • Xét về phương diện công bằng: Trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính thì không có tiêu chuẩn công bằng. Vấn đề là có trung thực hay không mà thôi. Khi doanh nghiệp xây cất tốn thời gian dẫn đến chi phí đi vay phải vốn hóa, thì giá trị tài sản doanh nghiệp làm ra phải tăng lên để phản ảnh đầy đủ chi phí đã tạo ra nó.
  • Xét về phương diện thành quả: Doanh nghiệp A thi công nhanh hơn sẽ có giá thành thấp hơn nên lợi nhuận từ kinh doanh cao hơn. Điều này nói đúng về thành quả của doanh nghiệp A. Tuy nhiên bên cạnh đó, chi phí tài chính cao hơn vì phải ghi vào khoản chi phí đi vay không được vốn hóa. Điều này sẽ dẫn đến người đọc báo cáo tài chính có thể đánh giá doanh nghiệp gánh chịu chi phí đi vay lớn hơn trong khi thực tế, chi phí đi vay của doanh nghiệp A nhỏ hơn doanh nghiệp thi công chậm B. Đây đúng là hạn chế của VAS 16 so với IAS 23. Lý do là IAS 23 chỉ căn cứ vào tính trọng yếu để quyết định.
Một bài viết về vấn đề vốn hóa chi phí đi vay khá dễ hiểu và có minh họa (tiếng Anh):